Tình huống: Mẹ tôi mất năm 2016, Bố tôi mất năm 2026. Trước khi mất, bố tôi để lại 1 bản di chúc viết tay được lập từ năm 2019. Theo đó, bố tôi để lại tài sản là 1 mảnh đất 90m2 và 1 căn nhà cấp 4 65m2 cho 3 người con là T, D, N (tôi) – có 1 người làm chứng cho di chúc viết tay đấy. Nhưng hiện nay anh cả của gia đình tên là T đã phủ nhận di chúc và lấy hết phần tài sản được để lại với lý do là bản di chúc được viết bằng tay, không có hiệu lực pháp luật và trước khi mất bố cũng nói sẽ để lại toàn bộ tài sản cho vợ chồng anh. Nay tôi muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi, liệu bản di chúc viết tay có hợp pháp theo quy định của pháp luật không?
Công ty Luật TNHH Đại Thanh trả lời câu hỏi của bạn như sau:
Dựa trên quan hệ pháp luật giữa anh T, D và N và Bố anh N cho thấy đây là mối quan hệ thừa kế giữa người để lại di sản và người thừa kế.
Theo pháp luật quy định, có hai hình thức chia thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật (không theo di chúc). Trong đó, thừa kế theo di chúc là việc chuyển dịch tài sản của người đã mất cho người còn sống theo ý chí, sự định đoạt của người đó khi họ còn sống. Vì di chúc là thể hiện ý chí của người để lại di sản nên thường di chúc được pháp luật ưu tiên hơn chia thừa kế theo pháp luật.
Thứ nhất là về hình thức của di chúc.
Căn cứ Điều 628. Di chúc bằng văn bản
“Di chúc bằng văn bản bao gồm:
- Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có người làm chứng.
- Di chúc bằng văn bản có công chứng.
- Di chúc bằng văn bản có chứng thực.”
Như vậy, di chúc được bố anh lập năm 2019, được một người làm chứng xác nhận, Theo Khoản 2 Điều 628 BLDS 2015, văn bản viết tay có người làm chứng vẫn được coi là 1 bản di chúc hợp lệ, được pháp luật thừa nhận.
Thứ hai là về điều kiện để một bản di chúc được coi là có hợp pháp.
Căn cứ điều 630 Bộ luật hình sự 2015 quy định di chúc chỉ được coi là hợp pháp, có hiệu lực pháp luật khi:
“1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”.
Dựa trên các căn cứ trên, nếu tại thời điểm lập di chúc, bố bạn hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt, tự nguyện, không bị ai lừa dối, đe dọa,… đồng thời nội dung bản di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội thì bản di chúc đó đương nhiên được coi là hợp pháp. Bên cạnh đó, cần xem xét người làm chứng có thuộc diện bị cấm làm chứng theo Điều 632 BLDS 2015 hay không?
“Điều 632. Người làm chứng cho việc lập di chúc
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”
Nếu người làm chứng không thuộc các trường hợp trên, có thể khẳng định, lý lẽ mà anh T đưa ra “bản di chúc được viết bằng tay, không có hiệu lực pháp luật” là hoàn toàn không có căn cứ pháp luật.
Còn đối với lời nói của bố anh trước khi mất về việc để lại toàn bộ tài sản cho vợ chồng anh T, lời nói đó không đương nhiên thay thế hay hủy bỏ di chúc bằng văn bản đã lập trước đó, mà chỉ có giá trị nếu đáp ứng đầy đủ và chặt chẽ các điều kiện của một di chúc miệng hợp pháp theo khoản 5 Điều 630 và Điều 629 BLDS 2015.
Chính vì vậy, nếu trường hợp của bố anh không rơi vào trường hợp trên thì lời nói miệng đó ngay từ đầu đã không đủ căn cứ để được công nhận là di chúc miệng hợp pháp, và do đó hoàn toàn không có giá trị pháp lý để phủ nhận hay thay thế bản di chúc viết tay đã được lập một cách hợp thức từ năm 2019.
Lưu ý: Bài viết mang tính chất tham khảo. Nếu có nhu cầu chia thừa kế, quý khách nên tham vấn luật sư để được tư vấn cụ thể.
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI THANH VÀ CỘNG SỰ
Địa chỉ: HH4 FLC Garden City, Đường Ngọc Đại, Đại Mỗ, Hà Nội, Hanoi, Vietnam
Email: luatdaithanh20@gmail.com
Sđt: 0829.123.988/ 0961.992.936

