Khi nào hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

 

1. Truy cứu trách nhiệm hình sự là gì?

Truy cứu trách nhiệm hình sự là buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện. Hay nói cách khác là áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự qua các giai đoạn từ khởi tố vụ án, khởi tố bị can, điều tra, truy tố và xét xử để buộc người đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi ấy, tức là phải chịu hình phạt. 

2. Khi nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Khi nào hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các dấu hiệu của tội phạm theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025:

“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.”

Cụ thể:

Có hành vi nguy hiểm cho xã hội: Hành vi đó xâm phạm đến các quan hệ được pháp luật bảo vệ như tính mạng, sức khỏe, tài sản, trật tự an toàn xã hội…

Hành vi được quy định là tội phạm trong Bộ luật Hình sự: Không phải mọi vi phạm đều bị xử lý hình sự, mà chỉ những hành vi đã được luật quy định rõ là tội phạm.

Có lỗi của người thực hiện hành vi: Người vi phạm phải có lỗi (cố ý hoặc vô ý), tức là nhận thức được hoặc phải nhận thức được hậu quả của hành vi.

Có năng lực trách nhiệm hình sự: Người đó phải đủ độ tuổi luật định và có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình.

3. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Một, Sự kiện bất ngờ: là khi người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó.

Hai, Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: khi đó người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Ba, Phòng vệ chính đáng: là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Tuy nhiên, hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Bốn, Tình thế cấp thiết: là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Năm, Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội: là hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ. Tuy nhiên, gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Sáu, Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ: là hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm. Nếu không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bảy, Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên: người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó. 

THÔNG TIN LIÊN HỆ:

CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI THANH VÀ CỘNG SỰ

Địa chỉ: HH4 FLC Garden City, Đường Ngọc Đại, Đại Mỗ, Hà Nội, Hanoi, Vietnam

Email: luatdaithanh20@gmail.com

Sđt: 0829.123.988/ 0961.992.936

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *