Phân biệt bị can và bị cáo theo luật tố tụng hình sự 2015

Trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, một người có thể lần lượt mang nhiều tư cách tố tụng khác nhau: người bị tạm giữ, bị can, rồi bị cáo. Trong đó, “bị can” và “bị cáo” là hai khái niệm dễ bị nhầm lẫn nhất, bởi cả hai đều chỉ người đang bị xem xét trách nhiệm hình sự nhưng lại khác nhau ở giai đoạn tố tụng, thẩm quyền quyết định và theo đó là quyền, nghĩa vụ tương ứng. Bài viết dưới đây phân tích rõ sự khác biệt này theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Phân biệt bị can và bị cáo theo luật tố tụng hình sự 2015

1. Khái niệm

Bị can được quy định tại khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Như vậy, một người trở thành bị can kể từ thời điểm Cơ quan điều tra (hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) ra quyết định khởi tố bị can, và tư cách này tồn tại trong suốt giai đoạn điều tra, truy tố.

Bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 61: là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Tư cách bị cáo chỉ phát sinh khi Tòa án đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, tức là hồ sơ đã qua giai đoạn điều tra, truy tố và chuyển sang giai đoạn xét xử.

Như vậy, bị can gắn với giai đoạn điều tra – truy tố, còn bị cáo gắn với giai đoạn xét xử. Một người không thể là bị cáo nếu chưa từng là bị can, và khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, tư cách bị can sẽ chuyển thành bị cáo.

2. Quyền của bị can

Căn cứ khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bị can có các quyền sau:

  • Được biết lý do mình bị khởi tố;
  • Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ;
  • Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định;
  • Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
  • Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
  • Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
  • Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
  • Tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa;
  • Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra;
  • Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

3. Nghĩa vụ của bị can

Căn cứ khoản 3 Điều 60, bị can có các nghĩa vụ sau:

  • Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã;
  • Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

4. Quyền của bị cáo

So với bị can, quyền của bị cáo được mở rộng thêm để bảo đảm quyền bào chữa tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 61, ngoài các quyền tương tự như bị can (được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa; đưa ra chứng cứ; đề nghị giám định, định giá tài sản; khiếu nại…), bị cáo còn có thêm các quyền:

  • Nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định tố tụng khác;
  • Tham gia phiên tòa;
  • Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;
  • Nói lời sau cùng trước khi nghị án;
  • Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa;
  • Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
  • Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

5. Nghĩa vụ của bị cáo

Căn cứ khoản 3 Điều 61, bị cáo có các nghĩa vụ sau:

  • Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã;
  • Chấp hành quyết định, yêu cầu của Tòa án.

6. Ý nghĩa của việc phân biệt

Việc phân định rạch ròi giữa bị can và bị cáo không chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng:

  • Xác định đúng giai đoạn tố tụng và thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng đối với người đó;
  • Xác định đúng phạm vi quyền được thực hiện tại từng thời điểm (ví dụ: quyền tham gia phiên tòa, quyền nói lời sau cùng chỉ phát sinh khi đã là bị cáo);
  • Là cơ sở để luật sư, người bào chữa xây dựng chiến lược bào chữa phù hợp với từng giai đoạn;
  • Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội: dù là bị can hay bị cáo, người đó vẫn chưa bị coi là có tội cho đến khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *