1. Quy định chung về thời hiệu khởi kiện trong tranh chấp dân sự
1.1. Thời hiệu khởi kiện là gì?
Theo khoản 3, Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Khi thời hiệu khởi kiện kết thúc thì chủ thể mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về nguyên tắc, thời hiệu khởi kiện được thực hiện theo quy định của BLDS 2015 và pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Tòa án không mặc nhiên áp dụng thời hiệu. Theo khoản 2 Điều 149 BLDS 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi một bên hoặc các bên có yêu cầu áp dụng thời hiệu, với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
1.2. Một số thời hiệu khởi kiện được quy định cụ thể
Đối với từng loại tranh chấp, BLDS 2015 hoặc pháp luật chuyên ngành có thể quy định thời hiệu khởi kiện khác nhau. Trong đó, một số trường hợp thường gặp gồm:
Tranh chấp về hợp đồng: Theo Điều 429 BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Yêu cầu bồi thường thiệt hại: Theo Điều 588 BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
So với BLDS 2005, BLDS 2015 đã kéo dài thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại từ 02 năm lên 03 năm.
Tuy nhiên, khi xác định thời hiệu của một tranh chấp cụ thể, cần kiểm tra cả quy định của pháp luật chuyên ngành, bởi pháp luật có thể quy định thời hiệu hoặc thời điểm bắt đầu thời hiệu khác với quy định chung của BLDS 2015.
1.3. Các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện
Điều 155 BLDS 2015 quy định các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện, bao gồm:
- Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản;
- Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp BLDS 2015 hoặc luật khác có liên quan quy định khác;
- Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai;
- Trường hợp khác do luật quy định.
Như vậy, không phải mọi yêu cầu khởi kiện vụ án dân sự đều bị giới hạn bởi thời hiệu. Khi xem xét một vụ việc cụ thể, cần xác định trước hết vụ việc đó có thuộc một trong các trường hợp không áp dụng thời hiệu hay không.
1.4. Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện như thế nào?
Khoản 2 Điều 149 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) đều quy định Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của một bên hoặc các bên.
Yêu cầu áp dụng thời hiệu phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
Do đó, việc một tranh chấp đã hết thời hiệu không đồng nghĩa với việc Tòa án đương nhiên tự mình áp dụng thời hiệu để giải quyết vụ án. Việc áp dụng thời hiệu còn phụ thuộc vào yêu cầu của đương sự và các điều kiện do pháp luật quy định.
Trường hợp có yêu cầu áp dụng thời hiệu, thời hiệu đã hết và không thuộc trường hợp pháp luật không áp dụng thời hiệu, Tòa án có thể đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.
2. Cách xác định thời điểm và thời hạn tính thời hiệu khởi kiện
2.1. Thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện
Theo khoản 1 Điều 154 BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tính từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, thời điểm bắt đầu thời hiệu không phải trong mọi trường hợp đều là ngày hành vi vi phạm hoặc sự kiện gây thiệt hại xảy ra. Việc xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu cần căn cứ vào thời điểm người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, đồng thời phải xem xét quy định riêng áp dụng đối với từng loại tranh chấp.
Đối với các loại tranh chấp mà BLDS hoặc luật chuyên ngành có quy định cụ thể về thời điểm bắt đầu thời hiệu thì áp dụng quy định cụ thể đó.
2.2. Cách tính thời hiệu
Theo Điều 151 BLDS 2015, thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu.
Do đó, khi xác định một yêu cầu khởi kiện còn hay đã hết thời hiệu, cần xác định chính xác:
- Ngày bắt đầu thời hiệu;
- Khoảng thời gian của thời hiệu theo quy định pháp luật;
- Có hay không có khoảng thời gian không tính vào thời hiệu theo Điều 156 BLDS 2015;
- Có hay không có sự kiện làm bắt đầu lại thời hiệu theo Điều 157 BLDS 2015;
- Các quy định đặc thù về thời hiệu của pháp luật chuyên ngành, nếu có.
2.3. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
Theo Điều 156 BLDS 2015, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
Thứ nhất, xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu.
Trong đó, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục được mặc dù chủ thể đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự.
Thứ hai, chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Thứ ba, người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân hoặc người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện.
Thời gian thuộc các trường hợp nêu trên được loại trừ khi xác định thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
2.4. Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện
Bên cạnh việc xác định thời điểm bắt đầu và khoảng thời gian không tính vào thời hiệu, cần phân biệt với trường hợp bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 157 BLDS 2015.
Theo đó, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong các trường hợp:
- Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
- Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
- Các bên đã tự hòa giải với nhau.
Khi xảy ra một trong các sự kiện trên, thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện.
Quy định này cần được phân biệt với trường hợp “thời gian không tính vào thời hiệu” theo Điều 156 BLDS 2015. Đối với Điều 156, khoảng thời gian thuộc trường hợp luật định được loại trừ khi tính thời hiệu; trong khi đó, Điều 157 làm phát sinh một thời hiệu mới kể từ thời điểm luật định.
Việc xác định có xảy ra sự kiện làm bắt đầu lại thời hiệu hay không có ý nghĩa quan trọng trong các tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán, hợp đồng, vay tài sản và các quan hệ nghĩa vụ dân sự khác. Chẳng hạn, việc bên có nghĩa vụ xác nhận nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ có thể là căn cứ để xem xét thời hiệu có bắt đầu lại hay không, nếu đáp ứng các điều kiện theo Điều 157 BLDS 2015.
2.5. Lưu ý khi xác định thời hiệu khởi kiện
Việc xác định thời hiệu khởi kiện cần được thực hiện trên cơ sở toàn bộ diễn biến của quan hệ tranh chấp, thay vì chỉ căn cứ vào ngày xảy ra hành vi vi phạm.
Trong từng vụ việc, cần lần lượt xác định loại tranh chấp, quy định pháp luật áp dụng, thời điểm người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, thời hạn khởi kiện, các khoảng thời gian không tính vào thời hiệu và các sự kiện có thể làm bắt đầu lại thời hiệu.
Đồng thời, cần lưu ý rằng Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của đương sự trong thời hạn luật định. Vì vậy, vấn đề thời hiệu không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định quyền khởi kiện mà còn có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.
3. Áp dụng thời hiệu khởi kiện trong vụ án tranh chấp thực tế theo bản án số 132/2018/DS-PT ngày 15-10-2018 về tranh chấp tiền lãi theo hợp đồng vay và mua bán tài sản
Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là Hợp tác xã Nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ H (HTX H) và bị đơn là ông Lê Văn C được Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên giải quyết theo Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2017/DS-ST ngày 31/08/2017. Tranh chấp xuất phát từ khoản vay gốc 5.000.000 đồng từ năm 2002; đến ngày 19/07/2010, giữa HTX H và vợ chồng ông C, bà Huỳnh Thị Kim N đã ký Hợp đồng tín dụng số 51 để chốt lại khoản nợ cũ còn lại là 3.600.000 đồng với thời hạn vay 01 năm, lãi suất trong hạn 1,1%/tháng và lãi quá hạn 1,5%/tháng. Sau khi ông C và bà N ly hôn, vào ngày 24/04/2012, bà N đã trả cho HTX H một nửa số nợ gốc là 1.800.000 đồng cùng 492.000 đồng tiền lãi, trong khi ông C không đồng ý trả phần nợ còn lại. Do đó, HTX H đã khởi kiện buộc ông C phải trả 1.800.000 đồng tiền gốc và 1.939.000 đồng tiền lãi (tính từ ngày 19/07/2010 đến ngày 19/10/2016), tổng cộng là 3.739.000 đồng. Trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt.
Về vấn đề thời hiệu khởi kiện và hình thức giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa không ra quyết định đình chỉ xét xử mà mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên chấp nhận một phần, bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xác định khoản nợ gốc 1.800.000 đồng là nợ chung của vợ chồng nên buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán. Đối với tiền lãi, Tòa án chấp nhận khoản lãi trong hạn (238.000 đồng) và lãi quá hạn tính đến ngày nhắc nợ 24/04/2012 (246.600 đồng), tổng cộng là 484.600 đồng vì đây là khoản tiền bị đơn đã được thông báo nhưng không trả. Tuy nhiên, đối với khoản tiền lãi còn lại 1.454.400 đồng (tính từ sau ngày 24/04/2012 đến ngày 19/10/2016), Tòa án nhận định nguyên đơn không chứng minh được đã thông báo nhắc nợ nhưng bị đơn không trả và thời điểm khởi kiện đã hết thời hiệu khởi kiện, do đó Hội đồng xét xử bác yêu cầu này. Chung cuộc, Tòa án tuyên buộc ông Lê Văn C phải trả cho HTX H tổng số tiền 2.284.600 đồng (bao gồm 1.800.000 đồng tiền gốc và 484.600 đồng tiền lãi) và bác phần yêu cầu đòi 1.454.400 đồng tiền lãi do hết thời hiệu.
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI THANH VÀ CỘNG SỰ
Địa chỉ: HH4 FLC Garden City, Đường Ngọc Đại, Đại Mỗ, Hà Nội, Hanoi, Vietnam
Email: luatdaithanh20@gmail.com
Sđt: 0829.123.988/ 0961.992.936

